Ở ĐBSCL có nhiều loại hình đất đai phù hơp cho phát triển các cây trồng nông nghiệp nói chung và cho cây bông nói riêng. Thời tiết khí hậu ĐBSCL cũng là thời tiết lý tưởng và ổn định nhất cho tất cả các cây trổng phát triển.

Với tập quán canh tác từ bao đời nay của nông dân miền Tây Nam bộ là trổng lúa và cây ăn quả, qua nhiều năm nghiên cứu thí nghiệm và sản xuất thử cây bông trên diện rộng cho thấy cây bông có thể sắp xếp tham gia vào cơ cấu cây trổng ĐBSCL dưới đây:

- Bông - lúa: Bố trí vụ lúa kết thúc vào cuối tháng 10, bỏng đông xuân gieo trong tháng 11, thu hoạch vào tháng 4. Đất trồng lúa có thể đã lên líp hoặc không lên líp nhưng chủ động tưới tiêu, không bị ngập nước khi đã gieo bông đặc biệt ở thời kỳ cây con.

- Bông trồng trên đất màu: Bông trồng thuần hay có thể trồng xen với các cây ngắn ngày, gieo trong tháng 10, tháng 11 thu hoạch vào tháng 3, 4.

Tóm lại với điều kiện đất đai phù sa rất màu mỡ với thiên nhiên rất ưu đãi đặc biệt là vụ đông xuân (mùa khô) đối với cây trồng nói chung và cây bông vải nói riêng. Nếu được đầu tư chãm sóc đúng yêu cầu kỹ thuật cây bông I vụ đông xuân của ĐBSCL sẽ cho năng suất cao, hiệu quả kinh tế lớn.

Song thực tiễn việc phát triển bông vói quy mô sản xuất hàng hóa tập trung lớn còn gặp rất nhiều khó khăn và hạn chế, nên theo chúng tôi trước mắt cần nghiên cứu thêm và cũng chưa nên mở rộng ở vùng này bởi những lý do dưới đây:

- Một là, mặc dù từ thời xa xưa (thời kỳ Pháp thuộc) cây bông đã được phát triển ở vùng sông nước Cửu Long để tự cung tự cấp vải mặc, song với cây bông luồi gần đây đưa vào thì vẫn là cây trồng mới, nông dân chưa quen với kỹ thuật trồng, thời vụ gieo bông muộn. Nông dân ít quan tâm đầu tư nên cây bông sinh trưởng kém, sâu bệnh phát triển mạnh, gặp mưa nhiều khi thu hoạch nên cả nãng suất và chất lượng đều giảm.

Ngoài ra có một số vùng xảy ra hạn hán suốt vụ, thiếu nước cây bông bị chết, hoặc không phát triển được. Tuy nhiên trong thực tế có rất nhiều hộ nông dân chuyên cẩn, áp dụng tốt tiến bộ kỹ thuật, gieo đúng thời vụ, đầu tư lao động vật tư đặc biệt là phân bón và tưới nước đã đật hăng suất 35 - 40 tạ bông hạt/ha, thu nhập 11 - 20 triệu đồng, lãi thuần từ 7 - 13 triệu đồng. Ngược lại cũng không ít hộ nông dân chỉ đạt năng suất 5 - 7 tà bông hạt/ha, thậm chí cổ nhiều hộ không cho thu hoạch.

Nhìn chung nông dân miền Tây Nam bộ đã quen với tập quán làm cây lúa quá nhàn hạ, ít bị mất mùa nên không qúen và không thích làm bông vì quy trình kỹ thuật rì'àm bông phức tạp hơn, tốn nhiều công và vất vả hơn cây lúa.

- Hai là, mặc dù cây bông đã được Nhà nước Chính phủ có chủ trương phát triển lớn, các tỉnh ĐBSCL cũng có chủ trương kế hoạch và chỉ tiêu diện tích, song đi vào chỉ đạo cụ thể thì chưa có quy hoạch chi tiết để bước đầu tao mô hình trồng bông tập trung, tạo điều kiện cho tìôrigTÍấn áp dụng tiến bộ kỹ thuật trồng bông năng suất cao, p!ểu quả kinh tế, thuận lợi trong thu múa.

- Ba là, ảnh hưởng giá cả của các nông sản nói chungrcây lúa nói riêng cũng làm cho người nông dân không ổn định tư tưởng, dao động trong lựa chọn cây trồng. Khi giá lúa xuống thấp xung quanh 1000 đ/kg thì nông dân xôn xao chọn cáy mía khi có giá 270 - 350 ngàn đồng/tấn và chọn bông phát triển. Song khi giá lúa lên cao 1700 - 2000 đ/kg thì nông dân sẵn sàng bỏ hết các cây khác. Đây là tình trạng trong nông nghiệp ở nhiều vùng. Nếu giá lúa ổn định có hiệu quả thì cây lúa vẫn là cây tập trung phát triển phù hợp nhất với người nông dân Nam bộ.

Tóm lại đối với ĐBSCL cây bông chưa thể phát triển lớn được vì “Thiên thời, địa lợi mà nhân chưa hòa”. Hay nói cách khác rất đồng nghĩa với nhận định của các nhà khoa học Trung Quốc: “Cây bông chỉ có thể phát triển ở những vùng có đất đai, thời tiết khí hậu phù hợp, với vùng : nghèo và nông dân chăm chỉ cần mẫn lao động, ham học hỏi và tiếp thu tiến bộ kỹ thuật”.