1. Thông tin chung.

- Tên thường gọi: Mao trúc.

- Tên khác: Trúc sào, Tre xiêm, Trúc lông, Diệp vĩ lông, Nam trúc, Miêu đầu trúc (trúc đầu mèo), Mâu đầu trúc (trúc mũi mác), Mạnh tông trúc

- Tên tiếng Anh: pur – ivory bamboo.

- Tên khoa học: Phyllostachys pubescens Mazel ex H. de Lehaie.
Thuộc họ Hoà thảo (Poaceae, phân họ Tre – Bambusoideae).

- Tại Đài Loan và Nhật Bản, Mao trúc thường được gọi là Mạnh tông trúc. Cả hai nơi này đều lưu truyền một truyện thần thoại có nguồn gốc từ Trung Quốc lục địa: Thời xưa có chàng trai chí hiếu họ Mạnh tên Tông, giữa mùa Đông băng giá bà mẹ ốm nặng và chỉ ước ao một bát canh măng. Mạnh Tông vào rừng tìm kiếm nhưng khắp rừng tuyết phủ, chẳng có măng nào mọc. Chàng trai buồn bã ôm gốc trúc mà khóc, lòng hiếu thảo của chàng trai đã làm cảm động thần tiên, ở những chỗ mà nước mắt Mạnh Tông rơi xuống, băng tuyết đã tan, đất nứt ra và măng mọc lên. Người Đài Loan gọi măng Mao trúc mọc lên trong mùa Đông là Mạnh tông đông, đây là loại măng ngon nhất và đắt giá nhất trong các loại măng tre trúc. Sách lâm nghiệp Đài Loan khẳng định Mạnh tông là Mao trúc, mang tên Phyllostachys pubescens và được dẫn giống từ Trung Quốc lục địa từ nhiều thế kỷ trước. Chưa rõ Mạnh tông ở Nhật Bản là Mao trúc bản địa hay được dẫn giống từ Trung Quốc lục địa. Nhật Bản là thị trường nhập khẩu măng đóng hộp đứng hàng thứ 3 thế giới (sau EU và Hoa Kỳ), trong đó măng Mao trúc được ưa thích nhất.

2. Giá trị kinh tế.

- Mao trúc thuộc nhóm trúc mọc tản, thân ngầm vừa sinh măng thân khí sinh vừa sinh măng thân ngầm, nhưng cây khí sinh thì không thể sinh măng hay thân ngầm, đây là một đặc điểm gây ra nhiều khó khăn cho việc nhân giống theo cách truyền thống. Thân ngầm và thân khí sinh hàng năm đều đổi ngọn một lần, do đó người ta căn cứ vào cấp số cành hoặc cấp thân khí sinh để xác định tuổi rất chính xác.

- Cây Mao trúc thường cao 10 – 15m, cực đại tới 20m; đường kính từ 7 – 12cm, có khi tới 20cm; mình dày 5 – 10mm, đôi khi tới 15mm; lóng dài 20 – 40cm. Thân Mao trúc rất thẳng và tròn đều kể cả điểm nối với mấu cành, duy nhất có một vòng gờ nổi sát dưới bẹ mo, nhưng cũng rất dễ tiện phẳng, dùng máy bóc có thể bóc được một lớp ván cật trải rộng 30 – 50 cm, thậm chí rộng 60 cm. Đây là ván dán mặt rất cao cấp, dùng làm bề mặt ván sàn, màu trắng ngà, vân thớ đẹp, chịu mài mòn tốt. Phần ruột và ngọn còn lại làm nguyên liệu để sản xuất giấy cao cấp.

- Mao trúc là nguyên liệu rất tốt, thậm chí là tốt nhất cho sản xuất chiếu trúc (bao gồm cả chiếu đan và chiếu quân cờ), cũng là nguyên liệu rất tốt cho sản xuất các đồ thủ công mỹ nghệ, đồ chơi …

- Giá trị quan trọng thứ hai của Mao trúc là măng rất ngon, sản lượng cao, lại có một vụ giữa mùa Đông nên giá rất cao. Măng Mao trúc dễ chế biến thành nhiều sản phẩm cao cấp khác nhau, hiện đang là sản phẩm xuất khẩu quan trọng của Hồ nam, Giang tây, Triết giang, Đài loan … Hiện nay mỗi năm Trung Quốc xuất khẩu sang Nhật 150.000 tấn đồ hộp măng các loại, trong đó măng Mao trúc chiếm khoảng 75%. Măng Mao trúc rất mập, trọng lượng bình quân từ 1,5 – 2,5 kg/cái, khi chưa lộ khỏi mặt đất thường có màu vàng nhạt, lúc này măng ăn rất ngon, sau khi lộ khỏi mặt đất măng chuyển màu vàng nâu và càng ngày càng kém ngon. Thịt măng màu trắng, phần ăn được chiếm 54,6%, măng tươi có thể bảo quản trong nhiệt độ phòng khoảng 10 – 15 ngày, nhưng khi làm đồ hộp thường phải chế biến ngay sau khi thu hoạch càng nhanh càng tốt.
Rừng Mao trúc hướng măng có thể cho sản lượng măng bình quân hàng năm từ 7,5 – 11,5 tấn/ha. Rừng thâm canh có thể cho sản lượng 15 – 22,5 tấn/ha.

- Mao trúc có thể gây trồng để lấy măng là chính hoặc lấy thân khí sinh là chính.

- Tuy nhiên, khuyến cáo chung là nên trồng rừng Mao trúc để vừa lấy thân vừa lấy măng. Trong rừng Mao trúc tỷ lệ măng điếc (không mọc thành cây ) có thể lên tới 60 – 70%, chủ yếu là do dinh dưỡng hữu cơ không đủ cung cấp. Nếu không khai thác tận dụng kịp thời, măng điếc tranh giành dinh dưỡng ảnh hưởng đến cây còn lại. Nếu chọn những măng mập nhất và tối ưu hoá mật độ và cấu trúc tuổi cây thì hiệu quả kinh tế có thể nâng cao gấp 3,5 – 5 lần.

- Mật độ tối ưu 2500 – 2700cây/ha, trong đó cây tuổi 1 – 2 chiếm 30%, cây tuổi 3 – 4 chiếm 37%, cây tuổi 5 – 6 chiếm 30%, cây tuổi 7 – 8 chiếm 3%. Đến tuổi 7 chất lượng công nghệ Mao trúc đạt mức cao nhất và cây cũng không còn vai trò nuôi dưỡng đối với các thế hệ sau; đây được coi là tuổi khai thác hợp lý nhất đối với cây Mao trúc.

- Có thể ước tính một cách khiêm tốn sản lượng thân khí sinh hàng năm khoảng trên 10tấn/ha với giá 0,6NDT/kg thu được 6.000NDT, sản lượng măng 5tấn/ha, giá 2NDT/kg thu 10.000NDT. Tổng thu 1 năm không dưới 16.000NDT, tương đương 30 triệu đồng/ha/năm và được thu hoạch nhiều chục năm sau. Đây thực sự là một con số hấp dẫn và thực tế đối với nhiều vùng núi cao.

3. Phân bố, diều kiện tự nhiên.

- Vùng Hoa nam là quê hương cây Mao trúc, phân bố tự nhiên 24 – 320 vĩ độ bắc, 102 – 122 kinh độ đông, bao gồm 16 tỉnh thành từ Vân nam – Quảng tây, Quảng đông, Vân nam, qua Hồ nam, Giang tây, Phúc kiến đến Triết giang, Hồ bắc ở phía Bắc.

- Cao trình phân bố không thấp hơn 250m ở ranh giới phía nam (Quảng đông, Quảng tây, 240 vĩ độ bắc), không cao hơn 800m ở ranh giới phía bắc.
Mao trúc có thể sinh trưởng tại những vùng có nhiệt độ bình quân năm giao động giữa 12 – 22 độ C, lượng mưa bình quân năm 1200 – 2000mm.

- Nhiệt độ bình quân năm tối ưu cho Mao trúc là 15 – 19 độ C, lượng mưa 1400 – 2000 mm và phân bố đều.
+ Khi nhiệt độ không khí bình quân tuần lên tới 10 độ C, Mao trúc bắt đầu có hoạt động sinh trưởng.
+ Khi nhiệt độ không khí bình quân tuần lên tới 15 – 25 độ C, hỉệu suất quang hợp đạt giá trị cao nhất.
+ Khi nhiệt độ không khí bình quân tuần vượt quá 35 độ C, Mao trúc ngừng sinh trưởng.
+ Mùa đông không đủ lạnh cũng có thể ảnh hưởng đến ngủ đông và phát triển măng.

- Nếu theo nguyên tắc xuống phía nam 1 độ vĩ phải đẩy cao trình lên 100m thì vùng núi phía bắc Việt Nam (21 – 220 độ vĩ) giới hạn thấp có thể gây trồng Mao trúc phải là 500 – 600m trở lên, vùng núi Nghệ an (19 – 200vĩ độ bắc) giới hạn thấp có thể gây trồng Mao trúc phải là 700 – 800m trở lên.

- Tại Phúc kiến (24 – 260 vĩ độ bắc) cao trình tốt nhất để trồng Mao trúc là 500 – 800m, như vậy với miền núi phía bắc Việt Nam, cao trình tốt nhất để trồng Mao trúc nên là 800m trở lên, với Nghệ an nên là 1000m trở lên.

- Tại vùng gây trồng Mao trúc lớn nhất là vùng đồi gò nam Trường giang, nhiệt độ cực hạn có thể lên tới 39 – 41 độ C trong nhiều tuần, vì vậy gió Lào ở Tây bắc và Bắc trường sơn có thể không phải là nhân tố đáng lo ngại.

- Mao trúc đòi hỏi chế độ mưa ẩm tương đối đều, ít nhất là đất đủ ẩm. Đặc biệt là mùa Xuân là mùa sinh măng thân khí sinh và mùa thu phát triển thân ngầm, Mao trúc đòi hỏi có độ ẩm cao. Nói chung các vùng núi cao phía bắc đèo Hải vân yêu cầu này dễ được thoả mãn.

- Tại giới hạn nam của vùng phân bố, chọn đất trồng Mao trúc thường ưu tiên hướng dốc âm (hướng bắc), trồng tại nước ta càng phải coi trọng yếu tố này. Độ dốc nói chung không quá 300, tốt nhất là nhỏ hơn 250.

- Nên chọn đất có tầng dầy 0,5m trở lên, tốt nhất là đất có tầng dầy 1,0m là giới hạn phân bố thân ngầm. Đất cần thoát nước, đủ ẩm (nên chọn vùng chân dốc dài), đất thịt nhẹ đến trung bình, ít đá tảng lẫn. Đất sét bí chặt hoặc hàm lượng cát quá cao, ngậm nước kém đều không phù hợp với Mao trúc. Đất giàu mùn, còn tính chất đất rừng rất thích hợp với trồng Mao trúc.

- pH: pH phù hợp với Mao trúc giao động từ 4,5 – 7,0, chân núi đá vôi, hoặc thung lũng vùng đá vôi, đất bồi tích ven sông suối có phản ứng thiên về trung tính đều phù hợp với Mao trúc.