I. NGUYÊN NHÂN.

Bệnh Salmonella có ở khắp nơi trên thế giới. Một số vịt chỉ mắc một chủng nhưng một số khác lại mắc nhiều chủng cùng một lúc. Vi khuẩn thường tồn tại trong ruột già và manh tràng của nhiều vịt. Vịt ở bất cứ lứa tuổi nào cũng đều bị nhiễm bệnh.

Ở vịt con thường bị nhiễm 2 chủng Salmomella pullorum và S. gallinarum (2 chủng này cũng chủ yếu gây bệnh cho gà. Do đó nếu nhốt chung gà với vịt thì sẽ lây bệnh cho nhau). Tuy vậy người ta thấy chủng S.galliarum thường gây bệnh cho vịt từ 1-14 ngày tuổi. Một số chủng khác cũng thường gây bệnh như S.anatum và S.enteritis (chủng S. anatum thường gây chết đột ngột cho vịt con, còn S.enteritis thì thường nhiễm từ gan vào gây viêm màng tim, màng gan, gây chết từ 20-30%).

Vi khuẩn Salmonella rất mẫn cảm với nhiệt độ và chất khử trùng. Thời gian sống trong chất độn chồng ở điều kiện thường khá dài. Ở những ô chuồng hết vịt mà bị nhiễm bệnh thì vi khuẩn vẫn sống được trong chất độn chuùong hơn 30 tuần. Vi khuẩn có thể sống trong phân đến 28 tuần, trong bụi bẩn của nhà ấp, nhà kho và chuồng nuôi ở nhiệt độ bình thường tới 5 năm và trên vỏ trứng trong máy ấp từ 3-4 tuần.

II. PHƯƠNG THỨC TRUYỀN LÂY.

- Truyền lây từ mẹ sang trứng (khi vịt mẹ đã mang mần bệnh), mần bệnh nhiễm từ máu vào buồng trứng. Nếu trứng đem ấp, mần bệnh nhiễm vào phôi, gây chết phôi (vịt sát), sưng rốn, tiêu chảy ngay trong 1-4 ngày tuổi.

- Truyền lây qua vỏ trứng: Do vi khuẩn có sẵn ở môi trường, ở ổ đẻ nhiễm vào vỏ trứng. Từ vỏ trứng vi khuẩn sẽ xâm nhập qua lớp vỏ vào trong trứng (vì vi khuẩn có lông roi và có thể di động được), vi khuẩn phát triển trong phôi gây chết (nếu nhiễm nặng). Hoặc vịt nở ra bị bệnh ngay.

- Truyền lây qua thức ăn, nước uống: Đặc biệt thức ăn là bột cá hay cá, tép khô, khi phơi để nhiễm mần bệnh từ môi trường đất, bụi cát.

III. TRIỆU CHỨNG.

+ Nếu nhiễm bệnh từ mẹ hoặc từ vỏ trứng vào phôi thì phôi bị chết trước khi nở (vịt sát).

+ Nếu nhiễm ít, khi nở ra vịt con có triệu chứng.

- Sã cánh, rụt cổ, rụng lông, ỉa chảy phân trắng, phân dính hậu môn màu trắng (urates), vịt đứng chụm lại gần đèn sưởi.

- Có con viêm khớp nên đi cà nhắc hoặc bại liệt (chủng S.typhimurim gây viêm khớp)

+ Ở vịt đẻ: Số lượng trứng đẻ giảm, xù lông, phân trắng.

IV. BỆNH TÍCH.

- Vịt con chết, mổ thấy cục lòng đỏ trong bụng còn to không hấp thụ được hết. Màu hơi nhạt.

- Lách và gan sưng, đôi khi có những đám hoại tử trắng lốm đốm.

- Bệnh tích điển hình nhất là manh tràng có chứa chất bã đậu trắng. Rất nhiều trường hợp trực tràng sưng và có đốm đỏ, sau trắng có bựa.

- Đôi khi có viêm màng tim, viêm túi khí hoặc viêm khớp (khớp đầu gối).

V. CHUẨN ĐOÁN.

- Dựa trên triệu chứng lâm sàng và bệnh tích.

- Lấy bệnh phẩm xét nghiệm và phân lập vi khuẩn (Lưu ý: Nếu bệnh phẩm lấy từ ruột hay trong các tổ chức đã bị phân hủy thì không đủ cơ sở để chuẩn đoán kết luận).

- Phân biệt với một số bệnh có triệu chứng lâm sàng giống Salmonella như:

+ Bệnh E.coli cũng phân trắng, tiêu chảy và chết nhanh ở vịt con, nhưng có triệu chứng thần kinh (quay quay đầu) rõ.

+ Bệnh thiếu vitamin đặc biệt là vitamin A cũng tiêu chảy nhưng chết ít và không sưng lách, gan.

+ Bệnh viêm gan vịt: Bệnh tích chủ yếu ở gan (xuất huyết), không có ở ruột.

VI. PHÒNG BỆNH.

a, Phòng bệnh.

- Kiểm tra huyết thanh học để loại những con mang trùng điều trị tách riêng hoặc xử lý.

- Vệ sinh trứng để giảm tỷ lệ nhiễm bệnh qua vỏ trứng. Trứng đẻ nhặt ngay và sát trùng qua hơi Formalin.

- Nước ao hồ, thức ăn đặc biệt là bột cá xương, bột thịt, bột ruốc nếu sản xuất thức ăn viên phải qua xử lý nhiệt(sấy hơi nóng) thì vi khuẩn Salmonella mới bị tiêu diệt.

- Vệ sinh và sử lý máy ấp, nhà ấp (ấp thủ công) sau mỗi đợt ấp để diệt mần bệnh có trong những phôi chết nhiễm vào máy ấp và ácc dụng cụ để ấp.

- Phòng bằng kháng sinh: Vịt con sau khi nở nên dùng kháng sinh trộn vào thức ăn liên tục từ 1 ngày tuổi đến 4 ngày tuổi. Những kháng sinh có tác dụng như ColíP, ColiCopha, AntiColi B, Imequil, Flumequil, Cosumix, Spectam, Neotesol, Chloramphenicol, Amipicolistin, ColiTetravet v.v... Liều sử dụng như dùng trong bệnh bạch lỵ và thương hàn gà.

b, Trị bệnh.

- Dùng kháng sinh trên tăng liều gấp đôi, dùng liên tục 5-7 ngày.

- Hoặc tiêm 1 trong những kháng sinh sau:

+ Chlotetrasol hoặc Noedexin, Neocyclin, liều 1cc/2-3 kg thể trọng/ ngày, liên tục 3-5 ngày.

+ Biotex hay Biocolistin, liều 1 cc/4kg thể trọng/ ngày, liên tục 3 ngày.

+ Ampicolistin, liều 1 cc/4kg thể trọng/ngày, liên tục 3 ngày.

+ Vịt đẻ nên dùng Bencomycin S tiêm liều 1cc/30kg thể trọng/ ngày (50.000 UI/kg thể trọng), liên tục 2-3 ngày.

+ Có thể phối hợp tiêm thuốc điều trị ngày đầu, còn 2-3 ngày sau dùng thuốc trộn thức ăn hay pha nước uống.