Muốn điều trị hiệu quả phải biết nguyên nhân gây bệnh, vi khuẩn hiện diện trong dịch viêm, làm kháng sinh đồ để biết vi khuẩn mẫn cảm hay đề kháng với loại kháng sinh nào; từ đó sử dụng thuốc mới có hiệu quả và tránh tốn kém. Hiện nay, một số kháng sinh đặc trị có phổ khuẩn rộng, tính mẫn cảm giết vi trùng mạnh có thể được sử dụng như: metricure, cobactan 2,5%, trong đó metricure có thể bơm thẳng vào tử cung bò (điều trị tại chỗ), cobactan 2,5% tiêm vào bắp (phong nhiễm và trị toàn thân).

Ngoài ra, khi dùng kháng sinh chứa trong viên đặt, cần biết được độ tan chảy, thời gian tan chảy, chủng loại kháng sinh đặc trị; quan trọng nhất là viên thuốc phải vào được bên trong tử cung. Thông thường phải kết hợp thêm thuốc chống viêm, giảm đau, giảm sốt (khi thú bị sốt).

Tuyệt đối không bơm nước để thụt rữa tử cung vì các dịch chất sẽ dồn vào ống dẫn trứng gây viêm tắc ống dẫn trứng và thú dễ bị vô sinh hay không động dục, phối không đậu thai.

Thời gian điều trị tùy thuộc vào nguyên nhân gây bệnh, mức độ viêm (tổn thương niêm mạc, tổn thương cơ tử cung hay tổn thương tương mạc tử cung). Trung bình liệu trình điều trị viêm tử cung sau khi sinh từ 5 – 7 ngày.