“Vượt rào” tạo dựng ước mơ

Hơn 13 năm về trước, chính quyền nhiều nơi mất ăn mất ngủ vì người dân ồ ạt bửa đập, phá cống… để đưa nước mặn vào nuôi tôm.

Năm 2000, một số vùng sản xuất lúa kém hiệu quả được phép chuyển đổi sang nuôi tôm, nhiều nông dân tưởng chừng đã bước được một chân vào cánh cửa đổi đời.

Con tôm bỗng chốc trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của tỉnh Cà Mau. Nhưng cũng từ đây, nhiều câu chuyện vui, buồn và hệ luỵ cũng bắt đầu…

Trước năm 1999, phong trào bửa đập đưa nước mặn vào nuôi tôm chỉ mới bắt đầu nhen nhóm ở một số nơi. Thế nhưng, sau đó không lâu, làn sóng ấy trở thành rầm rộ tại nhiều địa phương trong tỉnh. Chính quyền dù đã cố hết sức xịa cây, đắp lại những con đập mới nhưng vừa gia cố xong thì tiếp tục bị phá.

Khơi lại chuyện xưa, ông Trần Văn Út, nguyên Bí thư Chi bộ ấp 2, xã Hồ Thị Kỷ, huyện Thới Bình, vẫn còn nhớ như in: “Đêm đó là ngày 14 tháng chạp năm 1999. Mặt trời vừa lặn, tôi cùng hàng trăm người dân cùng nhau dùng dá đào đất, búa… bửa đập ngăn mặn ở các đầu kinh. Trong một đêm, nhóm chúng tôi bửa hết 5 đập ngăn mặn từ Vườn Cò kéo dài đến đập Rạch Mới. Vài hôm sau mới biết, vùng Đầm Dơi, Cái Nước, Phú Tân… khí thế bửa đập còn sôi nổi hơn rất nhiều”.

Vượt rào

Động cơ chính để người dân cùng nhau bửa đập là do sản xuất chỉ độc canh cây lúa, năng suất thấp, đời sống bấp bênh. Vùng chuyên canh lúa của tỉnh ngày trước do chưa chủ động được nước ngọt nên trồng lúa nhờ nước trời, kém hiệu quả.

Trước làn sóng bửa đập rầm rộ, năm 2000, Nghị quyết 09/2000/NĐ-CP ngày 15/6/2000 của Chính phủ cho phép tỉnh Cà Mau chuyển đổi diện tích trồng lúa kém hiệu quả sang nuôi thuỷ sản.

Sau ngày ấy, diện tích nuôi thuỷ sản của tỉnh tăng vọt từ 30.000 ha nhanh chóng tăng lên 75.000 ha chỉ trong năm 2000, đến nay là hơn 295.000 ha. Con số tăng ấy, phần lớn được hoán đổi từ diện tích đất trồng lúa sang nuôi tôm.

Nhà nông từ canh tác lúa được chuyển qua nuôi tôm cảm thấy hả hê vì kinh tế gia đình nhanh chóng “phất” chỉ sau vài vụ tôm trúng đậm. Những cánh đồng năn trước kia chỉ chủ yếu dùng để cầm trâu như: Nổng Bồng Bông, một số vùng của xã Biển Bạch Đông, Biển Bạch, Cái Sắn Ngọn… trở thành đất sinh vàng. Hộ này nuôi trúng, hộ kế lại bắt chước làm theo, từ đó mà diện tích tôm nuôi không rừng tăng.

Anh Nguyễn Văn Trận, xã Biển Bạch Đông, nhớ lại: “Thấy anh em nuôi tôm trúng quá, không cách nào cưỡng lại nên tôi âm thầm đi kiếm tiền lên bờ bao, cải tạo đất chuyển hướng qua nuôi tôm”.

Cây lúa lép vế

Từ khi Chính phủ cho chuyển dịch sản xuất, giấc mơ ngọt hoá bán đảo Cà Mau (BĐCM) trở nên xa vời. Dự án Quản lộ Phụng Hiệp ngọt hoá BĐCM được triển khai vào năm 1990 với tổng vốn đầu tư 1.400 tỷ đồng, từ vốn vay của Ngân hàng Thế giới bỗng chốc phải tạm dừng. Hàng trăm công trình cống đập, đê biển, đê sông ngăn mặn, giữ ngọt đã được đầu tư trở nên vô tác dụng.

Điều đó đồng nghĩa với hoạch định biến BĐCM thành cánh đồng lúa trù phú, trong đó Cà Mau có 66.000 ha, để bảo đảm an ninh lương thực và phục vụ xuất khẩu đã không thực hiện được. Không chỉ vậy, việc chuyển qua nuôi tôm khiến nhiều công trình thuỷ lợi như cống Cà Mau, Âu thuyền Tắc Thủ và rất nhiều cống, đập xây dựng nhằm ngăn mặn, giữ ngọt, được đầu tư kiên cố tiền tỷ, phải dỡ bỏ.

Nhiều công trình trong số ấy lại trở nên cản trở việc sản xuất và đi lại của người dân. Ông Dương Quốc Việt, Phó Chủ tịch UBND xã Hồ Thị Kỷ, cho biết: “Âu thuyền Tắc Thủ hoàn thành khoảng năm 2005 nhưng “thả cửa” nên dòng chảy lưu thông tự do, không ngăn được mặn và chưa giữ được ngọt.

Vì vậy, dân sống thượng nguồn cũng như hạ lưu sản xuất theo mô hình nước mặn chứ không sản xuất theo mô hình sinh thái nước ngọt. Nhiều lần tiếp xúc cử tri, người dân phản ánh đầu tư tiền tỷ xây âu thuyền mà không phát huy tác dụng, gây lãng phí”.

Tình hình dịch bệnh hiện nay đang làm cho nghề nuôi tôm trong tỉnh gặp rất nhiều khó khăn. (Trong ảnh: Anh Lâm Hồng Tới kiểm tra thiết bị phục vụ ao nuôi). Ảnh: HOÀNG DIỆU

Còn rất nhiều công trình thuỷ lợi phục vụ ngọt hoá BĐCM phải bỏ dở giữa chừng vì con tôm. Sự lên ngôi của con tôm vô hình trung đã làm “chết yểu” giấc mơ ngọt hoá.

PGS-TS Lê Anh Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu biến đổi khí hậu, Trường Đại học Cần Thơ, cho rằng: “Giai đoạn đầu thập niên 1980 đến 1990, do áp lực an ninh lương thực quốc gia nên hầu hết các công trình thuỷ lợi đều được thực hiện theo hướng tập trung giữ ngọt để trồng lúa. Trong đó, vấn đề ngọt hoá BĐCM cũng nằm trong xu thế chung nhằm đưa nước ngọt từ sông Hậu về theo hệ thống kinh thuỷ lợi để phục vụ việc trồng lúa, nhưng chính việc con tôm lên ngôi đã làm cho chủ trương này phải dở dang và kéo theo là nguy cơ phá vỡ cân bằng sinh thái như hiện nay”.

PGS-TS Lê Anh Tuấn nhận định, chủ trương ngọt hoá vùng BĐCM là một chủ trương đúng nhưng việc triển khai thực hiện chưa đồng bộ, thiếu quy hoạch đã làm cho chủ trương này không thể trở thành hiện thực.

Ông đánh giá: “Chúng ta cần đưa nước ngọt về phục vụ sản xuất nhưng không phải toàn vùng, mà phải quy hoạch khoanh vùng cụ thể khu vực nào cần nước ngọt sản xuất, khu vực nào cần nước ngọt sử dụng. Chúng ta không nên tác động quá nhiều vào thiên nhiên dẫn đến mất cân bằng sinh thái”.

Còn rất nhiều chuyện xoay quanh vấn đề tranh chấp mặn -ngọt ở nơi được xem là thủ phủ của con tôm. Tuy nhiên, một hệ luỵ đang hiện hữu mà ai cũng phải thừa nhận chính là sự mất cân bằng sinh thái, ô nhiễm môi trường, dịch bệnh trên tôm và kéo theo đó là nỗi cơ cực của nhiều nông dân một thời chuộng mặn bỏ ngọt.