Nằm trong dự án “Xây dựng mô hình trồng và bảo tồn dược liệu quý ở vùng Núi Cấm, Tịnh Biên”, đến nay, cây nghệ xà cừ đã phát huy được vai trò là cây dược liệu, đồng thời là cây thoát nghèo của bà con nông dân vùng Bảy Núi (An Giang).

Xét về hiệu quả kinh tế, bình quân mỗi hộ trồng rừng thu nhập chỉ từ 1-2 triệu đồng/năm từ việc bán gỗ, còn những hộ trồng vườn cây ăn trái thì phải mất 2-3 năm mới có thể cho thu hoạch. Vì lý do đó, nông dân Bảy Núi đã chọn cây nghệ xà cừ trồng xen dưới tán rừng, vườn cây ăn trái nhằm lấy ngắn nuôi dài, hạn chế cỏ dại và tăng thêm thu nhập. Theo ông Dương Ánh Đông - Trưởng trạm Bảo vệ thực vật huyện Tịnh Biên, nhờ điều kiện đất đai vùng núi thích hợp nên lượng tinh dầu cũng như hàm lượng dược chất của củ nghệ khi trồng ở vùng này cao hơn so với vùng đồng bằng. Nghệ xà cừ cũng thích hợp với độ cao, so với trồng ở chân núi, năng suất mỗi công sẽ cao hơn 0,5- 1 tấn.

Nghệ xà cừ là loại nghệ khi cắt lát có ánh sáng chiếu vào thấy lấp lánh giống xà cừ. Củ nghệ có rất nhiều công dụng, được lấy bột hoặc tinh chất từ củ để làm gia vị, dược liệu trong đông y, tây y. Công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu Domesco (Đồng Tháp) đã ký hợp đồng thu mua toàn bộ 30 héc-ta diện tích nghệ xà cừ trong vùng. Đây là tín hiệu vui cho bà con nông dân vì hiện nay, thông qua trồng nghệ, nhiều hộ đã cơ bản thoát nghèo.

Bên cạnh lợi ích cải thiện kinh tế, cây nghệ xà cừ còn giúp cho hàng trăm lao động địa phương có thêm thu nhập từ việc trồng và thu hoạch. Hiện nay, mỗi ngày có hơn 100 lao động tham gia vào việc thu hoạch, với tiền công từ 90.000 - 100.000 đồng cho nữ và 120.000 - 150.000 đồng cho nam. Số tiền này giúp khá nhiều cho việc cải thiện chất lượng cuộc sống hằng ngày của người dân.

Nông dân Bảy Núi thu hoạch nghệ xà cừ.

Nghệ xà cừ có thời gian canh tác từ 7 đến 8 tháng, được chuẩn bị xuống giống xuất hiện được cơn mưa đầu mùa. Đến thời điểm thu hoạch, lớp đất trồng được cày tơi, lao động theo những đường cày thu nhặt nghệ củ.

Thường mùa lấy củ rơi vào những tháng cuối năm, trùng với thời điểm nhu cầu tiêu thụ tăng cao nên diện tích trồng được nông dân mở rộng hơn các tháng khác. Ưu điểm của cây nghệ xà cừ là rất dễ trồng, ít tốn công chăm sóc và cho năng suất khá cao.

Ông Nguyễn Văn Dép (52 tuổi), trồng 1 héc-ta nghệ trong vườn xoài, chia sẻ kinh nghiệm: “Thông thường, với 1 công nghệ cần 100 – 150kg giống, sau 1 - 1,5 tháng phát triển thì bắt đầu bón phân, chủ yếu là URE và NPK. Từ đó, một tháng bón phân 1 lần, bón đến tháng thứ 4 thì không cần bón phân nữa. Một số bệnh đơn giản thường xuất hiện như vàng lá, thối rễ được xử lý kịp thời và không ảnh hưởng nhiều đến chất lượng cũng như sản lượng của nghệ. So với trồng các loại cây trồng khác như bắp, rau màu… thì trồng nghệ xà cừ hiệu quả kinh tế hơn nhiều”.

Ông Nguyễn Văn Đức (46 tuổi), ngụ ấp Tà Lọt, xã An Hảo (Tịnh Biên), cho biết: Đây là năm thứ 2 ông trồng cây nghệ xà cừ. Là loại cây mới nên lúc đầu ông còn gặp nhiều khó khăn về kỹ thuật. Năm nay, thời tiết thuận lợi cho cây nghệ, đồng thời, nắm được kỹ thuật canh tác nên số nghệ của ông đạt năng suất cao hơn năm ngoái. 7 công nghệ xà cừ trồng xen canh với vườn mãng cầu ta trên triền núi Cấm của ông đang vào lúc thu hoạch. Nếu năm trước, năng suất chỉ chừng 1,6 - 2 tấn/công thì năm nay năng suất ước tính 2-2,5 tấn/công. Theo giá bán 10.000 đồng/kg do công ty thu mua, trừ chi phí canh tác, ông còn lãi trên 17 triệu đồng. Năm tới, ông Đức quyết định tiếp tục trồng loại cây này trong vườn của mình với kỳ vọng tích lũy thêm kinh nghiệm, vụ tới sẽ trúng đậm.