Trong vòng 15 năm qua, sản lượng cá tra Việt Nam tăng gấp 50 lần, kim ngạch XK tăng gấp 65 lần và hiện chiếm 99% thị phần toàn cầu. Có thể nói, trên thế giới, chưa có sản phẩm thuỷ sản nào đạt tốc độ phát triển nhanh đến thế.

Trong cuộc hành trình dài hơn 4.000 cây số từ cao nguyên Thanh – Tạng chảy ra biển Đông, băng qua lãnh thổ của 6 nước, sông Mêkông hào phóng ban phát biết bao lợi ích cho 90 triệu người thuộc hơn 100 dân tộc sống trong lưu vực. Đặc biệt, dòng Mêkông còn dành riêng một món quà lớn cho vùng hạ lưu; giá trị của món quà ấy, mãi đến đầu thế kỷ 21 mới được giới khoa học khẳng định: ĐBSCL chính là “vùng nước vàng” của chặng hành trình 4.000 cây số, nơi nuôi cá tra cho năng suất cao nhất thế giới.

Giáo sư Michael Porter - chiến lược gia số 1 thế giới về cạnh tranh - từng nhận xét rằng: Lợi thế cạnh tranh của Việt Nam chính là sự khác biệt dựa trên nền nông nghiệp. Có thể coi cá tra là một sự khác biệt mang tính lợi thế tối ưu, khi nhiều nước có đặc điểm khí hậu tương tự, nhưng không thể nuôi và XK thành công như Việt Nam.

Dưới áp lực của biến đổi khí hậu, từ nửa cuối thế kỷ 20, nhân loại được khuyến khích chuyển sang ăn cá, thay cho thịt. Sự chuyển hướng này không chỉ đơn giản vì cá có nhiều axít béo omega 3 rất cần thiết cho quá trình phát triển não bộ, dồi dào protein, vitamin, khoáng chất, rất có ích cho hệ tiêu hóa, tim mạch; mà sâu xa hơn, chăn nuôi gia súc được kết luận là nguyên nhân chính gây nên hiệu ứng nhà kính. Tổng lượng khí thải của quá trình sản xuất thịt quy ra thán khí CO2 chiếm tỉ lệ tới 20% tổng lượng khí gây hại trên toàn cầu. Nhu cầu ăn cá của nhân loại tăng vọt đã và đang tạo ra cơ hội lớn cho phát triển nghề nuôi cá tra ViệtNam.

Điều độc đáo là việc nuôi và XK cá tra hầu như chỉ thực hiện được ở ĐBSCL, mọi cuộc thử nghiệm bên ngoài “vùng nước vàng” đều không cho kết quả khả quan. Khi nhiệt độ dưới 25 độ C, cá tra chậm lớn và bỏ ăn. Mỹ, Trung Quốc nuôi cá nheo phải mất 2 năm mới đủ lớn, còn Việt Nam nuôi cá tra chỉ cần 6 - 7 tháng.

Thấy được nguồn lợi từ con cá tra Việt Nam, những nước ngang vĩ độ như Philippines, Thái Lan có điều kiện thời tiết tương tự như Việt Nam, hiện nay cũng bắt đầu mày mò, nghiên cứu nuôi cá tra. Tuy nhiên, xét về điều kiện tự nhiên, Philippines không có sông lớn như Mêkông. Thái Lan chỉ có nhánh sông Mêkông chảy qua, nên tài nguyên nước không thể so với ĐBSCL.

Từ cuối thế kỷ 17, người Việt đã sớm chọn cá tra làm vật nuôi gia đình, tạo nguồn thực phẩm dự trữ giá rẻ. Đây chính là cơ sở xã hội sâu sắc và vững chắc, khiến hạ lưu sông Mêkông có sẵn lực lượng lao động nghề cá thiện nghệ, thừa sức đáp ứng bất cứ nhu cầu nào của thị trường XK. Song song đó, không thể không nhấn mạnh vai trò hỗ trợ đắc lực của giới khoa học trong khâu chọn tạo giống, nghiên cứu quy trình nuôi và chăm sóc phù hợp. Với sự đồng hành của nhà khoa học và DN, người nuôi cá tra tiếp thu tiến bộ KHKT rất chủ động, nhanh chóng.

So với lúa, gạo, cá tra có giá trị hơn hẳn. XK 1 tấn gạo chỉ 400 USD, tức 1 kg gạo là 0,4 USD trong khi 1 kg fillet cá tra có giá hơn 3 USD - gấp 10 lần. Nông dân nuôi cá tra năng suất rất cao, bình quân 1ha đạt từ 300 - 400 tấn, coi như đứng đầu thế giới. Tuy nhiên, việc phát triển nghề nuôi và chế biến cá tra tại ĐBSCL không phải toàn "gam màu hồng". Với cơ chế tự do phát triển, nhà nhà nuôi cá, người người XK đã đưa ngành cá tra Việt Nam vào con đường “tiến thoái lưỡng nan”.

Kể từ khi bước ra thị trường thế giới, sự phát triển mạnh mẽ và kim ngạch XK mà con cá tra đem về cho đất nước được xem là một kỳ tích. Năm 2001, ĐBSCL mới sản xuất vài chục ngàn tấn, nhưng với tốc độ thâm nhập thị trường chóng mặt. Nghề nuôi cá tra chỉ sử dụng chưa tới 6.000 ha diện tích mặt nước nuôi, nhưng với hệ thống gần trăm nhà máy chế biến trang bị hiện đại, tạo việc làm cho hàng trăm nghìn lao động. Năm 2012 cá tra Việt Nam đã XK sang 136 quốc gia và vùng lãnh thổ, đem lại doanh thu gần 1,8 tỷ USD. Trong quá trình phát triển và chiếm lĩnh thị trường thế giới, những đợt khủng hoảng thừa của con cá tra là những thảm họa với người nuôi và DN XK cá tra.

Có thể nói, chúng ta phát triển nhưng quên mất bài học lạnh lùng từ sự tự điều tiết của thị trường. Khi cung nhiều thì giá giảm, khi cầu nhiều thì giá tăng. Đối với con cá tra, thực tế xảy ra nhiều năm nay là một minh chứng: Khi giá cá lên, ai cũng ùn ùn nuôi dù có am hiểu kỹ thuật nuôi hay không, nhiều lúc còn “neo” cá để chờ mức lợi nhuận cao hơn. Khi giá cá giảm thì “bán tháo, bán đổ” làm đảo lộn cả thị trường, thậm chí, cầu cứu sự can thiệp của Nhà nước. Trong khi đó, các nhà máy chế biến đua nhau mọc lên, đua nhau chào giá bán sản phẩm ra nước ngoài khiến rối ren cả thị trường trong và ngoài nước... Hiện nay chưa có một cơ quan nào đứng ra nhận trách nhiệm và chưa có một đơn vị nào bị xử lý về hành vi bán giá thấp, ảnh hưởng đến giá trị của mặt hàng XK mang tính chiến lược quốc gia này. Điều này không chỉ làm sụt giảm uy tín chất lượng sản phẩm thủy sản của Việt Nam trên thị trường thế giới, mà còn gây thiệt hại cho nền kinh tế, nhất là đối với 2 tác nhân chính của chuỗi ngành hàng là DN và người nuôi.

Chúng ta đã tốn quá nhiều thời gian và công sức cho những bàn cãi tại các hội nghị từ năm 2005 đến nay. Đã có rất nhiều ý kiến, giải pháp hết sức tâm huyết được đưa ra, nhưng trên thực tế, việc sản xuất và XK cá tra lại ngày càng bất ổn. Phải chăng chúng ta nói nhiều mà làm chẳng bao nhiêu, chưa đạt kỳ vọng chinh phục và chiếm lĩnh thị trường thế giới, chưa đảm bảo lợi nhuận cho người nuôi? Càng bàn càng rối và chúng ta đã quá chậm chân. Vấn đề cần làm là phải hành động ngay từ bây giờ bằng những giải pháp thực sự khả thi.

Điều chúng ta thiếu cơ bản hiện nay là sự quản lý toàn chuỗi sản xuất, tiêu thụ, XK cá tra: Từ việc quản lý chất lượng cá tra bố mẹ đến sản lượng và chất lượng cá giống hàng năm; từ chất lượng và giá thức ăn đến thú y thủy sản; Từ giá nguyên liệu đến giá bán thành phẩm ra nước ngoài; Từ sản lượng nuôi đến chất lượng sản phẩm… Tất cả phải được điều tiết chung vì thương hiệu quốc gia, vì lợi ích dài lâu và bền vững của cả chuỗi sản xuất. Phải hành động ngay vì thời gian không chờ chúng ta được nữa!