Họ: Cá chép - Cyprinidae

Phân bố: Đông Ấn Độ, Bănglađet, Xri - Lanca

Chiều dài: 5 cm.

Chiều dài bể: 30 cm.

Chế độ ăn: Giun, động vật thân giáp, côn trùng, thức ăn tổng hợp.

Nhiệt độ nước: Từ 24 đến 30 độ C.

Bể nuôi chung.

Cá ngựa vằn (Hippocampus comes) có thân mỏng hay hơi dẹp bên, có 2 cặp râu. Cá cái hơi lớn hơn cá đực, có bụng tròn hơn. Lưng màu ôliu nâu, bụng trăng trắng. Màu sắc và đường nét trang trí của hông rất đặc trưng. Ở cá đực, màu nền là vàng kim, điểm xuyết thêm bốn vạch dọc màu lam đậm trải ra suốt chiều dài của cơ thể, từ nắp mang cho đến tận cùng vây đuôi. Bức họa này cũng lặp lại trên vây hậu môn. Vây lưng màu ôliu, viền trắng lam, trong khi các vây ngực và vây bụng lại không có màu. Khe mang mang những vệt màu lam hơi khó phân biệt. Đầu mõm và bụng trắng bạc óng ánh.

Cá ngựa vằn đã được nuôi trong bể kính từ năm 1905. Cá khá khỏe rất thích hợp cho người mới nuôi cá cảnh. Nó không đòi hỏi một sự chăm sóc riêng biệt nào. Trong bể cần có thực vật nhưng phải sắp xếp sao cho trong bể có đủ khoảng trống gần bề mặt nước cho cá bơi lội được. Phải có nắp đậy để cá không nhảy ra.

Để cá sinh sản được, nước phải ngọt hoặc cứng trung bình, và nhiệt độ nước trên 24 độ C. Có thể trồng vài bụi cây có lá phủ lông mềm, như rong đuôi chồn. Sau một lúc ve vản tích cực. Cá đực đuổi theo cá cái ở giữa các khóm cây, và việc đẻ trứng xảy ra tại đó. Phải bảo vệ trứng tránh bị cá bố mẹ ăn. Trứng nở sau 48 giờ ở nhiệt độ 26 - 27 độ C.

Tốt nhất nên nuôi cá đực sẫm màu có những vạch màu vàng kim và các vây có viền màu trắng. Cá ngựa vằn mắn đẻ, có thể đẻ nhiều lứa trong một năm, tùy cách nuôi vỗ.

Cá bột sau 5 ngày đã bơi lội tự do và ăn các trùng cỏ và lớn nhanh. Cá trưởng thành có thể ăn thức ăn tổng hợp, như trùn chỉ, giun đỏ và những thức ăn khô khác cũng thích hợp với cá.