1.Tiêu chuẩn môi trường nước ương nuôi ấu trùng.

Nước sử dụng cho ương nuôi ấu trùng phải được lọc kỹ qua bể lọc tinh. Trước khi lấy vào bể nước được lọc qua ống lọc có kích thước lỗ lọc 0,5 – 1 µm hoặc túi lọc nước. Nước cần duy trì pH từ 7,5 – 8. Ôxy hòa tan bão hòa (>5 mg/l). Độ mặn của nước biển đảm bảo từ 30 – 35‰. Nhiệt độ nước 27 – 30 độ C. Bố trí 4 – 5 dây sục khí cho 4 m2 diện tích bể nuôi. Sau đó tiến hành diệt khuẩn bằng các thuốc và hóa chất sử dụng trong nuôi trồng thủy sản. Nước sau 1 – 2 ngày xử lý tiến hành xử lý một số vitamin tổng hợp (thuốc chống sóc) sau đó thả ấu trùng vào nuôi.

2.Quản lý chăm sóc ấu trùng nổi Veliger.

a. Mật độ ương.

Mật độ thích hợp cho ương ấu trùng ốc hương ở giai đoạn bơi từ 80 – 100 con/lit. Cũng có thể nuôi ở mật độ cao hơn ở tuần đầu sau đó san thưa đảm bảo mật độ thích hợp cho ấu trùng ở cuối giai đoạn bơi và chuẩn bị biến thái sang giai đoạn bò.

b. Thay nước.

- Thay nước hai ngày một lần vào buổi sáng, lượng nước thay từ 40 – 60 % thể tích nước trong bể. Trong quá trình thay nước đề phòng ấu trùng bị chết do ép vào lưới thay nước.
- Hình thức chuyển bể, thường thực hiện khi ấu trùng nuôi được 7 – 10 ngày tuổi để chuẩn bị cho giai đọan biến thái chuyển thành ấu trùng bò lê hoặc khi ấu trùng có dấu hiệu bệnh do môi trường nước trong bể bị ô nhiễm. Chuẩn bị bể nước khác đảm bảo phải giống (tương đồng) các yếu tố môi trường nước ở bể nuôi củ như độ mặn, nhiệt độ, pH . . . Nếu các yếu tô chênh lệch nhiều ấu trùng thường bị sóc và lắng chết dần sau khi chuyển sang bể mới. Để tránh hiện tượng ốc bị lắng sau khi chuyển bể, trước khi chuyển ấu trùng nên cho vào bể mới EDTA 4 ppm, các loại vitamin và thốc chống sóc, 10 – 20 lít tảo, 1 – 2 gam thức ăn công nghiệp nhằm tạo môi trường mới tương tự như môi trường bể nuôi ban đầu.

c. Thức ăn và cho ăn.

- Các loại tảo đơn bào như Chaetoceros muelleri, Chlorella sp, Nannochloropsis, Platymonas và một số loại thức ăn công nghiệp dạng bột mịn đang được sử dụng phổ biến cho ương nuôi tôm sú giống như No, Fripack, lansy, 505, thịt hầu xay nhỏ . . . là thức ăn thích hợp cho ấu trùng.
- Lượng thức ăn cho vào bể tùy thuộc loại thức ăn sử dụng. Nếu dùng chuyên thức ăn tảo, mật độ tảo duy trì trong bể ương từ 3.000-10.000 tế bào/ml tuỳ theo giai đoạn và khả năng dinh dưỡng của ấu trùng. Nếu sử dụng chuyên thức ăn công nghiệp lượng thức ăn cần cung cấp khỏang từ 1 – 2 gam x 4 lần/ ngày cho 400.000 ấu trùng (lúc 8giờ , 12 giờ, 16 giờ và 22 giờ trong ngày).

3.Quản lý chăm sóc ấu trùng bò và ốc con.

a. Chuẩn bị bể ương.

Cát sạch được sử dụng làm chất đáy cho ốc con vùi mình là lọai cát mịn, nhẹ. Lượng cát cho vào bể một lớp mỏng khỏang 1,5 – 3 mm trên nền đáy bể. Trước khi đưa vào bể ương, cát phải được chuẩn bị trước. Sàng cát qua lưới loại bỏ cát lớn, xử lý cát bằng một số hóa chất như thuốc tím 100 ppm, formol 50 ppm để khử trùng và rửa sạch trước khi đưa vào bể ương. Nên lọc cát cho kỹ để thuận tiện cho việc lọc thu ốc giống trong các khâu tiếp theo. Sau khi đã được chuẩn bị, cát được sàng trực tiếp vào bể ương nuôi. Sau khi ấu trùng biến thái xuống đáy hòan tòan mức nươc ương nuôi thấp chỉ khoảng 0,3 – 0,5 m. Có thể gián dây bảo vệ ngay từ đầu của quá trình ương nuôi trước khi cho ấu trùng vào bể.

b. Quản lý, chăm sóc.

- Kiểm tra số lượng ấu trùng biến thái chuyển thành ốc con. Xác định và kiểm tra mật độ ấu trùng còn trôi nổi trong nước để cung cấp thức ăn cho phù hợp. Thay nước hàng ngày, từ 1/2 – 2/3 thể tích bể. Duy trì chế độ sục khí thường xuyên. Thay nước cẩn thận, tránh không gây tác động mạnh làm ảnh hưởng đến ấu trùng.
- Khi ấu trùng biến thái hoàn toàn sang giai đọan bò lê, thức ăn sử dụng là thịt tôm, ghẹ hoặc cá băm nhỏ với lượng 50 – 80 gam/ lần cho 100.000 – 150.000 ốc giống. Lượng thức ăn được tăng lên dần theo nhu cầu của ốc. Cho ăn 2 lần/ ngày (9 giờ và 15 giờ). Thức ăn được băm nhỏ rửa sạch trước khi cho vào bể để hạn chế môi trường nuôi bị đục gây ô nhiễm môi trường. Thay nước 100% hàng ngày. Sau khi ốc đã được 3 hoặc 4 ngày tuổi. Lọc chuyển chúng sang bể ương mới nhằm hạn chế ốc chết do môi trường đáy bị ô nhiễm. Giai đọan tiếp theo là giai đọan ương giống.