1. Môi trường.

- Bãi nuôi nằm trong vùng kín sóng gió, Trên các Chương, Bãi, Vụng, Vịnh, diện tích mặt nước không bị ô nhiễm bởi các ngành sản xuất, và chất thải khu dân cư và không bị ảnh hưởng bởi các: Sông, Suối, khe nước ngọt chảy vào, Độ mặn: 28 ‰ trở lên, pH nước: 7,5 – 8,5, độ trong: trên 2,5m, chất đáy là cát thô hoặc cát mịn tránh nơi cát pha bùn, dòng chảy 0,2 – 0,5m.
- Nếu vùng nuôi không đáp ứng đủ các yêu cầu trình bày ở trên thì không nên đưa Tu Hài vào nuôi tránh có những tổn thất không đáng có.

2. Xây dựng bãi nuôi.

- Xây dựng bãi nuôi trên nền đáy tự nhiên: Vào ngày thuỷ triều thấp nhất dọn hết rong, rêu, đá, sỏi trong lồng ô nuôi ra ngoài và san phẳng mặt bãi, giảm độ nghiêng của bãi. Rào bãi: Dùng cọc gỗ 4 – 5cm, dài 1,5m đóng xung quanh bãi nuôi. Khoảng cách các cọc từ 1 – 2m. Dùng tre và dây thép buộc giằng các đầu cọc theo chiều ngang. Rào bãi bằng lưới nilon 2a = 2cm chôn xuống bãi 0,3 m, phần trên cao 50 – 70 cm, phía bên trên có lưới phủ kín, căn ô theo hình chữ nhật, chiều dài theo hướng từ trong bờ ra bãi sâu, một ô nuôi có diện tích từ 6 đến 20m2 nếu ô nuôi có diện tích lớn hơn thì cứ cách một mét ngang đặt một hàng đá hộc làm lối đi trong bãi để thuận tiện cho việc kiểm tra.

- Xây dựng bãi nuôi trên nền đáy nhân tạo: Bãi nuôi được chọn có nền bãi là cát mịn không phù hợp cho Tu Hài sinh sống thì bắt buộc phải cải tạo. Vật liệu làm bãi gồm; Ván phên chắn cát, loại gỗ tạp, bản gỗ dày 2 – 2,5cm rộng 20cm dài bất kỳ, có thể thay thế gỗ bằng tre đan thành phên; cọc gỗ (nếu dùng lưới vây bãi thì cọc gỗ cao 1,5 – 2m và dùng lưới phủ mặt bãi thì dùng cọc gỗ cao 0,7 – 0,8m), dây buộc là dây kẽm 2,5mm, đinh 5 – 7cm, kìm cắt dây thép, dây riềng bằng lưới nilon phi 7 – 10mm, lưới lót bãi 2a = 2cm, tre hoặc gỗ để giăng ngang thân và đầu cọc. Triển khai xây dựng theo trình tự sau; xác định ô nuôi và đóng cọc xung quanh, mỗi cọc cách nhau 1 – 1,5m tạo hình dáng ô nuôi (hình chữ nhật hoặc hình vuông) mỗi ô nên có diện tích từ 10 – 20m2, dùng tre hoặc cây gỗ buộc giằng ngang thân và đầu các cọc với nhau, dùng ván hoặc phên tre ngăn cát chặn xung quanh ô nuôi, dùng lưới 2a = 2mm đến 2a = 5mm trải kín toàn bộ bề mặt ô nuôi, vận chuyển cát thô có pha mảnh vụn vỏ nhuyễn thể từ nơi khác đến đổ vào ô nuôi và san phẳng, cát có độ dày 20cm, dùng lưới nilon bao xung quanh (cao 0,8 – 1m) hoặc bao cả xung quanh và măt trên (cao 0,2 – 0,4m) của ô nuôi, tính từ mặt bãi và chân lưới vùi xuống cát.

3. Thả giống.

Có thể thực hiện theo 2 hình thức là định vị một con vào 1 lỗ cho từng vị trí cụ thể dùng que chọc 1 lỗ và thả vào 1 con giống, hoặc ta đinh vị và dải đều trên mặt bãi cho Tu Hài giống tự lụi xuống cát (mật độ trung bình 50 con/m2).


4. Quản lý và chăm sóc.

- Đối với kỹ thuật nuôi đáy, phải thường xuyên kiểm tra lưới vây quanh bãi. Vơ hết rong tạp nếu có trên mặt lới phía trên mặt.

- Định kỳ 15 – 20 ngày vệ sinh bãi nuôi một lần để loại bỏ sinh vật bám như Sun, Hà, Hải Miên….

- Kiểm tra nguồn nước lưu thông trong bãi nuôi, vệ sinh chân lưới sạch sẽ để nước dễ lưu thông.

- Theo dõi môi trường: Độ mặn (S0/00), mùa khô được đo định kỳ theo con nước thuỷ triều. mỗi con nước đo độ mặn tầng đáy một lần vào lúc triều cường và một lần vào lúc triều ròng. Mùa mưa đo độ mặn 2 ngày một lần trong khi đang mưa thì đo hàng ngày, mỗi ngày từ một đến 2 lần. Nếu độ mặn giảm xuống đến 250/00 cần phải kiểm tra nguồn nước ngọt xung quanh xem có chảy trực tiếp vào bãi để có biện pháp xử lý kịp thời.

- Theo dõi sinh trưởng và tỷ lệ sống: Mỗi tháng kiểm tra sinh trưởng và tỷ lệ sống 1lần. Kiểm tra sinh trưởng: Thu 30 cá thể bất kỳ để đo và xác định các chỉ tiêu vỏ tính bằng centimet và cân khối lượng tính bằng gam. Kiểm tra tỷ lệ sống : Mỗi địa điểm kiểm tra 3 mẫu, mỗi mẫu 1 m2 (đối với nuôi trên bãi).

- Phát hiện kịp thời các xác chết và tìm rõ nguyên nhân.

- Kiểm tra màu sắc của Tu hài để phát hiện điều kiện bãi nuôi như vỏ Tu Hài có màu đen (bùn) thì cần phải vệ sinh bãi, khơi dòng chảy…


- Kiểm tra lưới chắn để kịp thời phát hiện và sửa chữa những hư hỏng bảo vệ Tu Hài trong bãi nuôi.

- Thường xuyên theo dõi môi trường nước tình trạng hoạt động và dịch bệnh của Tu Hài trong bãi nuôi.