1. Thông tin chung

- Tên gọi: Canarian Warren Hound/ Podenco Canario/ Canarian Podenco.

- Nguồn gốc: Tây Ban Nha.

- Tiểu sử: Trên quần đảo Canary, nơi bắt nguồn của chúng, chúng được biết đến với cái tên Podenco Canario. Người ta thấy chúng trên tất cả các đảo trong quần đảo, đặc biệt tại đảo lớn nhất : đảo Gran Canary và đảo Teneriffe. Podenco Canario là giống chó có nguồn gốc từ Ai Cập và có thể được mang tới quần đảo Canary bởi những người xứ Phê-nê-xi (Phoenicians), người Hy Lạp, người Ai Cập hoặc người Carthaginian. Đây là một trong số những giống chó cổ nhất còn tồn tại, bởi chúng ta tìm thấy nhiều dấu tích (hình chạm khắc, tượng, phù điêu) trong các lăng mộ của Pha-ra-ông và trong các bảo tàng như bảo tàng Louvre hay Vương Quốc Anh. Giống chó này được cho là đã có vào khoảng 7,000 năm trước.

- Ngoại hình: Đây là giống chó có kích thước trung bình, người hơi dài, mảnh khảnh, thon thả và đặc biệt rắn rỏi. Khung xương vững chắc. Cơ thể không có lớp mỡ làm ta có thể nhìn thấy bộ khung xương sườn cũng như cột sống và xương hông. Sự vững chắc được phát triển đến cực đại qua vẻ gày gò, sự co duỗi của các bắp cơ khi chuyển động được hiển thị rõ rệt dưới lớp da mỏng. Ngực sâu đến khuỷ chân. Mũi hơi dài hơn chiều dài đầu.

- Tính cách: Dũng cảm, mạnh mẽ, dễ bị kích động và luôn năng nổ. Bướng bỉnh nhưng không hung dữ. Trung thành với chủ, chúng có thể chịu đựng thởi tiết khắc nghiệt suốt cả ngày mà không có dấu hiệu mệt mỏi.

- Công dụng: Được sử dụng để săn thỏ, và sau đó được cho thích nghi để dùng cho nhiều mục đích khác nhau của người nuôi – nhờ vào cái mũi thính kỳ lạ, khả năng quan sát và thính giác của chúng. Chúng tồn tại dễ dàng trong những vùng có nhiệt độ cao và có khả năng săn đuổi từ bình minh tới đêm tối. Nhờ vào thính giác và khứu giác tốt, chúng có thể phát hiện những con thỏ trong các khe đất, trong các vách tường, trong những đống đá hay trong những bờ ruộng, trong hang hay trong bụi rậm. Chúng có sức sinh tồn rất mạnh mẽ và không phải bàn cãi, bắt nguồn từ khả năng săn đuổi không thể thay thế của chúng qua hàng thế kỷ. Chúng chủ yếu làm nhiệm vụ đuổi mồi, không sủa hoặc bỏ giữa chừng trong suốt cuộc truy tìm. Được sử dụng đi săn cùng với chồn (ferret – dùng để sục đuổi thỏ khỏi hang), chúng luôn cắn con thỏ trong mồm chúng.

2. Đặc điểm nhận biết

- Phần đầu: Có hình thon dài, xương sọ dẹp, cân đối với thân, có độ dài trung bình 21 – 22 cm. Khung xương mặt và sọ song song với nhau (The cranial-facial axes are parallel).

- Phần sọ: Xương sọ dài, phẳng, có xương chẩm lồi. Điểm tiếp giáp gốc mũi và mặt gần như thẳng.

- Phần mặt
+ Mũi: Rộng, có màu phù hợp với màu lông. Lỗ mũi nở rộng vừa phải.
+ Mõm: Rộng và nhô lên tạo thành hình chóp nhọn. Có màu phù hợp với màu lông.
+ Môi: Vừa vặn, khép kín, có màu cùng với màu của mũi.
+ Hàm/Răng: Răng khép hình kéo, răng phát triển đều, dài.
+ Mắt: Mắt xếch, nhỏ, hình quả hạnh đào, có màu hổ phách; sức biểu cảm của mắt được tạo ra cùng với sự tương phản giữa màu mắt và màu lông. Mắt biểu lộ sự thông minh và kiêu hãnh.
+ Tai: Rất lớn, dựng thẳng khi chó bị kích động và hơi vểnh sang hai bên. Khi nghỉ ngơi, tai hướng nhẹ về phía sau. Phía gốc tai rộng và đầu tai rất nhọn.

- Cổ: Lực lưỡng, thẳng, lông rất mịn và không có diềm da dưới cổ, linh hoạt và nhanh nhạy.

- Thân mình
+ Lưng: Khoẻ, thẳng, cơ bắp phát triển mạnh, thích hợp với việc chạy đua và các yêu cầu săn đuổi.
+ Hông: Thon, hơi dài.
+ Mông: Xương mông rắn chắc, nhìn rõ dưới lớp da, đặc biệt khi đang chạy đuổi.

- Ngực: Xương ức không nhô ra, ngực phát triển tốt, sâu gần đến khuỷ chân. Xương sườn cong hình ô-val. Chu vi vòng ngực lớn hơn chiều cao đến vai từ 5 tới 8 cm.

- Bụng: Thon, nhưng không cong hẳn lên như chó đua (galgo, greyhound). Xương sườn lộ rõ.

- Đuôi: Đuôi thẳng xuống dưới, nhìn như một phần kéo dài ra từ mông. Đuôi tròn, dài hơn kheo chân một chút. Đuôi dốc xuống hoặc có hình lưỡi liềm, vuốt nhọn ở phía chóp đuôi. Chóp đuôi thường có màu trắng. Đuôi không bao giờ cong lên. Đuôi cũng không cong lên quá cao ngay cả khi đang chạy.

- Tứ chi: Chân trước rất thẳng, hai chân song song. Cấu trúc xương nhỏ, thanh mảnh nhưng rất chắc chắn; bàn chân có hình chân mèo. Bàn chân hơi hướng ra ngoài. Đệm bàn chân rắn chắc, có hình ô-val.

- Các góc xương chân

+ Xương bả vai và xương cẳng chân trước: tạo thành góc khoảng 110°.

+ Xương cẳng chân trước và xương ống chân trước: tạo thành góc khoảng 140°.

- Chân sau: Rất thẳng (nhìn từ phía sau mông, hai cẳng chân thẳng, không bị khuỳnh sang hai bên) và lực lưỡng, phát triển cân đối, mạnh mẽ về cơ bắp ; kheo chân cao (khoảng 18 cm từ mặt đất); bàn chân dạng chân mèo, đệm bàn chân rắn chắc và có hình ô-val. Không có huyền đề(móng treo, móng đeo ).

- Các góc xương chân

+ Góc giữa xương háng và xương đùi: khoảng 110 độ.
+ Góc giữa xương đùi và xương chày : khoảng 120 độ.
+ Góc xương kheo chân : khoảng 130 độ.

- Dáng đi, chuyển động: Chạy nước kiệu nhanh nhẹn, uyển chuyển, bước chạy dài và rất nhẹ nhàn.

- Da: Da chắc, bám sát vào người và không có các nếp gấp trên người.

- Lông: Mượt nhẵn, mịn, ngắn và dày.

- Màu sắc: Màu được ưu chuộng là đỏ và trắng, màu đỏ có thể đậm hoặc nhạt, từ màu cam đến màu đỏ sẫm như màu gụ. Tất cả các sự phối màu đỏ và trắng đều được chấp nhận.

- Kích thướt: Chiều cao đến vai: Chó đực: từ 55 – 64 cm, Chó cái: từ 53 – 60 cm. Do có sự khác nhau về địa hình của các khu vực nơi mà chó sống và đi săn, kích thước bình quân của chúng có thể khác nhau. Mức chênh lệch được chấp nhận là 2 cm vượt quá chiều cao tối đa và 2cm thấp hơn chiều cao tối thiểu, với điều kiện là các yêu cầu khác phù hợp với quy chuẩn của giống chó.